Công cụ đánh giá nguy cơ mắc khối u ác tính ung thư da và Phương pháp ABC

khối u ác tính

 

Khối ung ác tính, một loại ung thư da, ban đầu có thể xuất hiện như một nốt ruồi lành tính và chúng ta không hề phát hiện trong nhiều năm. Từ năm 1992 – 2004, tỷ lệ ung thư nhìn chung giảm nhưng các trường hợp khối u ác tính tăng gần gấp 3% mỗi năm. Sự gia tăng này có liên quan đến chẩn đoán của bác sĩ. Vì ở những bệnh nhân được chẩn đoán sớm, tỉ lệ sống sót là 98%, trong khi những bệnh nhân được chẩn đoán sau khi khối u ác tính đã di căn (lan tràn đến các cơ quan hoặc các mô khác), tỉ lệ sống sót sau 5 năm giảm xuống còn 16%. Do vậy, giới y học luôn nỗ lực phòng chóng và phát hiện sớm khối u ác tính .

Các bác sĩ lầm sàng thường dự đoán những bệnh nhân nào có khả năng mắc khối u ác tính để có sự giám sát chặt chẽ và phát hiện sớm. Các bác sĩ chăm sóc thường chú ý và tiền sử gia đình có từng mắc khối u ác tính hay không.

Các nhà khoa học hiểu rõ sự cần thiết trong việc giảm nguy cơ phát triển khối u ác tính di căn , nhưng tiến hành nghiên cứu trên diện rộng rất khó khăn và tốn kém. Thay vào đó, các sĩ chăm sóc và các nhà nghiên cứu đã làm việc với nhau để phát triển một công cụ để xác định bệnh nhân nào có nguy cơ cao mắc khối u ác tính .

Các nhà nghiên cứu tại NCI, trong đó có tiến sĩ Thomas cùng các đồng nghiệp tại Đại học Pennsylvania, Đại học California, San Francisco và trung tâm ung thư Menorial Sloan-Kettering đã làm việc với nhau để phát triển công cụ đánh giá rủi ra khối u ác tính (gọi là MRAT) để có thể dự đoán tốt hơn khả năng phát triển của khối u ác tính. Ngoài ra, nhà nghiên cứu NCI, tiến sĩ Kimberly Mallett và các đồng nghiệp đã phát triển phương pháp ABC (Addressing Behavior Change) để giúp thúc đẩy bệnh nhân thay đổi hành vi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời của họ.

khối u ác tính ung thư da

khối u ác tính

 

The MART

MRAT chủ yếu tập trung vào các yếu tố nguy cơ gây nên khối u ác tính như tuổi tác, màu da, lịch sử cháy nắng, lịch sử gia đình có người mắc khối u ác tính, địa lý vùng miền, số lượng nốt ruồi trên cơ thể. Các bác sĩ sau đó sử dụng những thông tin này để tính toán cơ hội của bệnh nhân mắc ung thư da khối u ác tính trong vòng 5 năm.

MRAT cũng có thể giúp bệnh nhân khám da thường xuyên, tư vấn về giảm tiếp xúc ánh nắng mặt trời, và tham gia các nghiên cứu phòng ngừa. Thông qua các biện pháp can thiệp sớm, tổn thương u ác tính có thể được xác định trước khi chúng lây lan sang các bộ phận khác hoặc mô, nhằm tăng tỉ lệ sống sót.

 

Phương pháp ABC:

Bệnh nhân có nguy cơ mắc khối u ác tính cao có thể biết về cách phòng chống tiếp xúc ánh nắng mặt trời, thường những hành vi này rất khó thay đổi được. Phương pháp ABC là một phương pháp giúp các bác sĩ dễ dàng can thiệp sớm trong tâm trí bệnh nhân để phòng chống. Trong năm 2008, Tiến sĩ Mallett và các đồng nghiệp tạo ra các phương pháp ABC giúp nâng cao động lục của bệnh nhân để giảm thiểu tác hại tia cực tím do việc tiếp xúc với mặt trời gây ra nguy cơ khối u ác tính .

 

Phương pháp ABC dựa trên động lực phỏng vấn -a, phương pháp trị liệu bệnh nhân làm trung tâm nhằm tăng cường sự sẵn sàng cho sự thay đổi bằng cách giúp bệnh nhân khám phá và giải quyết mâu thuẫn hoặc thái độ cảm xúc về sự thay đổi. Sử dụng một tập ngắn gọn các câu hỏi, các bác sĩ có thể nhanh chóng đánh giá nguy cơ tia cực tím, sử dụng kem chống nắng, và những trở ngại để sử dụng kem chống nắng.

khối u ác tính ung thư da

Cách tiếp cận này cũng chỉ ra một cách dễ dàng để loại bỏ các rào cản và giúp bệnh nhân tìm phương pháp bảo vệ họ khỏi ánh nắng dễ dàng phù hợp lối sống của họ . Cách tiếp cận này cho phép các bác sĩ và bệnh nhân để xem xét chiến lược kem chống nắng với nhau và tìm cách để làm giảm nguy cơ phát triển khối u ác tính .

 

Quan tâm hơn đến bệnh ung thư da

 

Các bác sĩ cho phép MRAT để đánh giá chặt chẽ hơn bệnh nhân và xác định xem họ có nguy cơ cao phát triển khối u ác tính . Nó cũng giúp các bác sĩ và bệnh nhân nói về chiến lược phòng chống . Ngoài ra, nó có thể cho phép các bác sĩ theo dõi và chẩn đoán khối u ác tính ở giai đoạn sớm , sẽ giúp tăng cơ hội của bệnh nhân để tồn tại.

 

Theo các nghiên cứu ban đầu , các bệnh nhân được mở cho bằng cách sử dụng phương pháp ABC để cải thiện hành vi tiếp xúc ánh nắng mặt trời . Phương pháp này cũng có thể cải thiện giao tiếp giữa bệnh nhân và các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe . Khi các bác sĩ đã sử dụng phương pháp ABC trong chuyến thăm văn phòng, bệnh nhân xem chúng như là các chuyên gia chăm sóc và tương tác người tích cực lắng nghe họ .

 

Nghiên cứu theo dõi NCI hỗ trợ hiện đang tìm kiếm cho dù phương pháp này sẽ cải thiện hành vi phòng chống của bệnh nhân và làm giảm sự phát triển của khối u ác tính .

 

Hướng việc nghiên cứu đến sức khỏe

 

Mặc dù các bác sĩ cho phép MRAT để phát hiện khối u ác tính trong giai đoạn đầu , các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm dấu ấn sinh học và các công cụ nhận dạng khác mà sẽ tăng cường phát hiện . Phát hiện này có thể giúp làm giảm cả số lượng các trường hợp mới của và tử vong do loại ung thư da.

 

Tác động của phương pháp ABC đối với bệnh nhân vẫn đang được nghiên cứu. Như nhiều bác sĩ lâm sàng kết hợp nó vào thực hành thường xuyên và như nhiều bệnh nhân thay đổi hành vi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời của họ , các nhà nghiên cứu sẽ có thể tốt hơn để xác định hiệu quả phương pháp này là giúp bệnh nhân giảm nguy cơ phát triển khối u ác tính .

 


 

chữa ung thư da

 

Fucoidan – món quà quý giá từ đại dương trong điều trị ung thư

(Nguồn: www.thuocfucoidan.org)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *